Bỏ qua, tới nội dung

Tâm lý & sức khoẻ tinh thần

Thang đo PHQ-9 tiếng Việt: sàng lọc trầm cảm, Kroenke (2001)

Mô hình
PHQ-9
Khái niệm
1
Biến quan sát
9
Thang trả lời
Tần suất 0–3

Thang đo PHQ-9 trên trang này gồm 9 biến quan sát thuộc 1 khái niệm, có câu gốc tiếng Anh, cách chấm điểm và tài liệu để trích dẫn.

PHQ-9 là phần trầm cảm gồm 9 câu của bộ Patient Health Questionnaire, do Kroenke, Spitzer và Williams (2001) kiểm định. Mỗi câu ứng với một tiêu chí triệu chứng trầm cảm theo DSM-IV, hỏi người trả lời bị làm phiền bao nhiêu ngày trong 2 tuần qua. Thang ngắn, miễn phí và có mốc mức độ rõ ràng nên được dùng rộng rãi để đo mức độ triệu chứng trầm cảm. Ở Việt Nam, PHQ-9 hay xuất hiện trong đề tài về sức khoẻ tinh thần của sinh viên, người lao động, người bệnh mạn tính, và làm biến kết quả cùng GAD-7.

Thang trả lời: Thang tần suất 4 mức, không phải Likert đồng ý, hỏi về 2 tuần qua: 0 = Hoàn toàn không (Not at all), 1 = Vài ngày (Several days), 2 = Hơn một nửa số ngày (More than half the days), 3 = Gần như mọi ngày (Nearly every day). Cộng 9 câu được điểm tổng 0–27; theo hướng dẫn của tác giả, các mốc 5, 10, 15, 20 tương ứng mức nhẹ, vừa, khá nặng và nặng. Không có câu đảo chiều. Câu hỏi thêm về mức độ khó khăn trong sinh hoạt ở cuối bảng không tính vào điểm.

Biến quan sát thang đo PHQ-9 (tiếng Việt và bản gốc)

Bản tiếng Việt do ban biên tập dịch để tham khảo. Khi dùng cho nghiên cứu, hãy dịch ngược (back-translation) và chạy thử với 20–30 người trước khi phát chính thức. Thay [hệ thống], [thương hiệu]... bằng đối tượng cụ thể trong đề tài của bạn.

Mức độ triệu chứng trầm cảm (PHQ) · Depression Severity

Tần suất người trả lời gặp 9 triệu chứng trầm cảm (mất hứng thú, buồn chán, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, ăn uống, tự đánh giá thấp, khó tập trung, chậm chạp hoặc bồn chồn, ý nghĩ tự hại) trong 2 tuần qua.

MãBiến quan sát (tiếng Việt)
PHQ1Ít quan tâm hoặc ít thấy vui thích khi làm mọi việcLittle interest or pleasure in doing things
PHQ2Cảm thấy buồn, chán nản hoặc tuyệt vọngFeeling down, depressed, or hopeless
PHQ3Khó đi vào giấc ngủ hoặc khó ngủ liền giấc, hoặc ngủ quá nhiềuTrouble falling or staying asleep, or sleeping too much
PHQ4Cảm thấy mệt mỏi hoặc thiếu sức lựcFeeling tired or having little energy
PHQ5Ăn không ngon miệng hoặc ăn quá nhiềuPoor appetite or overeating
PHQ6Cảm thấy tệ về bản thân, hoặc thấy mình là người thất bại, hoặc đã làm bản thân hay gia đình thất vọngFeeling bad about yourself—or that you are a failure or have let yourself or your family down
PHQ7Khó tập trung vào việc gì đó, chẳng hạn đọc báo hoặc xem tiviTrouble concentrating on things, such as reading the newspaper or watching television
PHQ8Đi lại hoặc nói năng chậm chạp tới mức người khác có thể nhận thấy? Hoặc ngược lại, bồn chồn, đứng ngồi không yên tới mức đi lại nhiều hơn hẳn bình thườngMoving or speaking so slowly that other people could have noticed? Or the opposite—being so fidgety or restless that you have been moving around a lot more than usual
PHQ9Có ý nghĩ rằng mình chết đi thì tốt hơn, hoặc ý nghĩ tự làm hại bản thân theo cách nào đóThoughts that you would be better off dead or of hurting yourself in some way

Nguồn: Kroenke, Spitzer & Williams (2001), 9 biến.

Lưu ý khi sử dụng thang đo PHQ-9

Độ tin cậy của PHQ-9 trong các nghiên cứu đã công bố

Khái niệmHệ sốMẫu và nguồn
PHQ-9 (toàn thang)α = 0,89PHQ Primary Care Study, 3.000 bệnh nhân ở 8 phòng khám chăm sóc ban đầu (Mỹ)Kroenke, Spitzer & Williams (2001), mục Results: Reliability and Efficiency of the PHQ-9
PHQ-9 (toàn thang)α = 0,86PHQ Ob-Gyn Study, 3.000 bệnh nhân ở 7 phòng khám sản phụ khoa (Mỹ)Kroenke, Spitzer & Williams (2001), mục Results: Reliability and Efficiency of the PHQ-9
PHQ-9, độ tin cậy test-retestr = 0,84 (bản tự điền so với phỏng vấn qua điện thoại trong vòng 48 giờ)580 bệnh nhân được chuyên gia sức khoẻ tâm thần phỏng vấn lạiKroenke, Spitzer & Williams (2001), mục Results: Reliability and Efficiency of the PHQ-9
PHQ-9 (toàn thang), mẫu Việt Namα = 0,85n = 889 người dân 3 xã huyện Thanh Oai, Hà NộiVu và cộng sự (2022), mục Measure and Instruments
Nhân tố 'Cơ thể' (5 câu) / 'Nhận thức-cảm xúc' (4 câu), mẫu Việt Namα = 0,843 / 0,802; omega = 0,844 / 0,820n = 889 người dân 3 xã huyện Thanh Oai, Hà NộiVu và cộng sự (2022), Bảng 3
PHQ-9 (toàn thang), mẫu Việt Namα = 0,92n = 1.850 vị thành niên và người trẻ Việt Nam, khảo sát trực tuyếnNguyen và cộng sự (2025), mục Assessment of depressive & anxiety symptoms

Đây là số liệu của nghiên cứu khác, không thay cho kiểm định trên dữ liệu của bạn. Khi viết chương 4, so sánh hệ số của bạn với các con số này và trích đúng nguồn.

Nghiên cứu ở Việt Nam đã dùng thang đo PHQ-9

Câu hỏi hội đồng hay hỏi về thang đo PHQ-9

Mốc 10 điểm PHQ-9 có nghĩa là người đó bị trầm cảm không?

Không. Kroenke, Spitzer & Williams (2001) cho thấy điểm từ 10 có độ nhạy 88% và độ đặc hiệu 88% với trầm cảm nặng khi so với phỏng vấn của chuyên gia sức khoẻ tâm thần, nghĩa là vẫn có người dương tính giả và âm tính giả. PHQ-9 là công cụ sàng lọc và đo mức độ; chẩn đoán phải qua phỏng vấn lâm sàng. Luận văn nên viết 'có triệu chứng trầm cảm từ mức vừa trở lên' và nêu mốc đã dùng; các nghiên cứu cộng đồng ở Việt Nam có khi dùng mốc 5 (Nguyen và cộng sự, 2026), có khi dùng mốc 10 (Duong và cộng sự, 2025).

Câu 9 hỏi về ý nghĩ tự sát, em xử lý thế nào về đạo đức?

Hướng dẫn của tác giả PHQ nói rằng quyết định cuối cùng về nguy cơ tự hại phải dựa trên phỏng vấn lâm sàng, nên nhà nghiên cứu không tự đánh giá nguy cơ mà phải có quy trình chuyển tiếp. Cách làm phổ biến: xin duyệt đạo đức, có phiếu đồng ý, ghi đầu mối hỗ trợ ngay trong bảng hỏi, và chuyển người sàng lọc dương tính tới cơ sở chuyên môn như Nguyen và cộng sự (2026) đã làm ở TP.HCM. Nếu khảo sát ẩn danh trực tuyến không liên hệ lại được, cân nhắc dùng PHQ-8 (bỏ câu 9).

Vì sao em phân tích PHQ-9 thành 2 nhân tố thay vì 1?

PHQ-9 gốc tính một điểm tổng (Kroenke, Spitzer & Williams, 2001), nhưng cấu trúc nhân tố khác nhau giữa các mẫu. Trên mẫu người dân ngoại thành Hà Nội, Vu và cộng sự (2022) thấy mô hình 2 nhân tố 'cơ thể' (5 câu) và 'nhận thức/cảm xúc' (4 câu) phù hợp hơn mô hình 1 nhân tố. Em nên chạy CFA so sánh cả hai, báo cáo chỉ số phù hợp, và vẫn có thể dùng điểm tổng khi so mốc mức độ.

Dùng trong Bộ khảo sát

Bộ khảo sát mở sẵn 1 khái niệm của PHQ-9; bạn ghép thêm khái niệm từ thang đo khác, rồi tải bảng hỏi Word, bảng mã hoá Excel và đoạn chương 3.

Cỡ mẫu gợi ý cho PHQ-9

PHQ-9 là thang đơn lẻ 9 biến. Theo Hair và cộng sự, EFA cần tối thiểu 5 quan sát cho mỗi biến (45, làm tròn thành mức tối thiểu 50) và nên từ 100 quan sát trở lên; nếu ước lượng tỷ lệ có triệu chứng thì tính cỡ mẫu theo công thức ước lượng tỷ lệ. Tính chính xác cho mô hình của bạn bằng máy tính cỡ mẫu.

Phân tích thang đo PHQ-9 sau khi thu dữ liệu

Kiểm tra độ tin cậy từng khái niệm bằng công cụ tính Cronbach's alpha online, rồi chạy EFA, tương quan và hồi quy trong công cụ phân tích dữ liệu khảo sát. Đối chiếu kết quả với bảng ngưỡng chấp nhận Cronbach, KMO, AVE, HTMT; chỉ số nào không đạt thì bác sĩ kết quả gợi ý cách xử lý hợp lệ. Để trình bày quan hệ giữa các khái niệm, dùng công cụ vẽ mô hình nghiên cứu; mô hình có biến trung gian hoặc điều tiết thì kiểm định bằng công cụ kiểm định biến trung gian, điều tiết. Muốn so sánh với thang đo khác cùng khái niệm, xem thang đo theo khái niệm.

Bản quyền và quyền sử dụng PHQ-9

Theo hướng dẫn trên trang PHQ Screeners và chú thích in trên bảng hỏi, PHQ-9 do Spitzer, Williams, Kroenke và cộng sự phát triển với tài trợ giáo dục của Pfizer, thuộc phạm vi công cộng: không cần xin phép để sao chép, dịch, trình bày hay phân phối.

Tài liệu tham khảo thang đo PHQ-9

Các tài liệu khác trong khoá luận định dạng theo cùng chuẩn bằng công cụ trích dẫn APA 7 online: dán DOI là có mục tài liệu tham khảo.

Thang đo liên quan