Tâm lý & sức khoẻ tinh thần
Thang đo DASS-21 tiếng Việt: trầm cảm, lo âu, stress (1995)
- Mô hình
- DASS-21
- Khái niệm
- 3
- Biến quan sát
- 21
- Thang trả lời
- Mức độ 0–3
Thang đo DASS-21 trên trang này gồm 21 biến quan sát thuộc 3 khái niệm, có câu gốc tiếng Anh, cách chấm điểm và tài liệu để trích dẫn.
DASS do Lovibond và Lovibond (1995) xây dựng để đo ba trạng thái cảm xúc tiêu cực có liên quan với nhau: trầm cảm, lo âu và căng thẳng (stress). Bản đầy đủ có 42 biến; DASS-21 lấy 7 biến cho mỗi tiểu thang và mất khoảng một nửa thời gian trả lời. Trang chính thức của DASS khuyên dùng DASS-21 cho mục đích nghiên cứu. Ở Việt Nam, thang này hay xuất hiện trong đề tài về sức khoẻ tinh thần của sinh viên, nhân viên y tế, người lao động, và làm biến kết quả trong mô hình áp lực học tập hoặc áp lực công việc.
Thang trả lời: Thang mức độ 4 mức, không phải Likert đồng ý, hỏi về tuần vừa qua: 0 = Hoàn toàn không đúng với tôi (Did not apply to me at all), 1 = Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng (Applied to me to some degree, or some of the time), 2 = Đúng với tôi phần nhiều, hoặc khá nhiều lúc (Applied to me to a considerable degree, or a good part of time), 3 = Rất đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian (Applied to me very much, or most of the time). Cộng 7 biến của mỗi tiểu thang rồi nhân 2 để so sánh được với DASS-42; mỗi tiểu thang có điểm từ 0 đến 42. Không có câu đảo chiều.
Biến quan sát thang đo DASS-21 (tiếng Việt và bản gốc)
Bản tiếng Việt do ban biên tập dịch để tham khảo. Khi dùng cho nghiên cứu, hãy dịch ngược (back-translation) và chạy thử với 20–30 người trước khi phát chính thức. Thay [hệ thống], [thương hiệu]... bằng đối tượng cụ thể trong đề tài của bạn.
Trầm cảm (D) · Depression
Mức độ chán nản, mất hứng thú, thấy cuộc sống vô nghĩa và đánh giá thấp bản thân trong tuần vừa qua.
| Mã | Biến quan sát (tiếng Việt) | Bản gốc (tiếng Anh) |
|---|---|---|
| D3 | Tôi dường như không thể cảm nhận được bất kỳ cảm xúc tích cực nào.I couldn't seem to experience any positive feeling at all | |
| D5 | Tôi thấy khó tự thúc đẩy bản thân bắt tay vào làm việc gì đó.I found it difficult to work up the initiative to do things | |
| D10 | Tôi cảm thấy chẳng còn điều gì để mong đợi.I felt that I had nothing to look forward to | |
| D13 | Tôi cảm thấy chán nản, buồn bã.I felt down-hearted and blue | |
| D16 | Tôi không thể hào hứng với bất cứ điều gì.I was unable to become enthusiastic about anything | |
| D17 | Tôi cảm thấy bản thân mình không có mấy giá trị.I felt I wasn't worth much as a person | |
| D21 | Tôi cảm thấy cuộc sống vô nghĩa.I felt that life was meaningless |
Nguồn: Lovibond & Lovibond (1995), DASS-21, 7 biến (câu 3, 5, 10, 13, 16, 17, 21).
Lo âu (A) · Anxiety
Mức độ kích thích sinh lý (khô miệng, khó thở, run, tim đập mạnh), sợ hãi và lo bị hoảng loạn trong tuần vừa qua.
| Mã | Biến quan sát (tiếng Việt) | Bản gốc (tiếng Anh) |
|---|---|---|
| A2 | Tôi thấy mình bị khô miệng.I was aware of dryness of my mouth | |
| A4 | Tôi bị khó thở (ví dụ thở gấp bất thường, hụt hơi dù không vận động gắng sức).I experienced breathing difficulty (eg, excessively rapid breathing, breathlessness in the absence of physical exertion) | |
| A7 | Tôi bị run (ví dụ run tay).I experienced trembling (eg, in the hands) | |
| A9 | Tôi lo về những tình huống mà mình có thể hoảng loạn và tự làm mình bẽ mặt.I was worried about situations in which I might panic and make a fool of myself | |
| A15 | Tôi cảm thấy mình gần như sắp hoảng loạn.I felt I was close to panic | |
| A19 | Tôi cảm nhận rõ tim mình đập dù không vận động gắng sức (ví dụ thấy tim đập nhanh lên, hoặc hẫng một nhịp).I was aware of the action of my heart in the absence of physical exertion (eg, sense of heart rate increase, heart missing a beat) | |
| A20 | Tôi thấy sợ hãi mà không có lý do chính đáng.I felt scared without any good reason |
Nguồn: Lovibond & Lovibond (1995), DASS-21, 7 biến (câu 2, 4, 7, 9, 15, 19, 20).
Căng thẳng (stress) (S) · Stress
Mức độ căng thẳng kéo dài, khó thư giãn, dễ kích động và dễ cáu trong tuần vừa qua.
| Mã | Biến quan sát (tiếng Việt) | Bản gốc (tiếng Anh) |
|---|---|---|
| S1 | Tôi thấy khó mà thả lỏng, bình tĩnh lại.I found it hard to wind down | |
| S6 | Tôi có xu hướng phản ứng thái quá với các tình huống.I tended to over-react to situations | |
| S8 | Tôi cảm thấy mình tiêu hao nhiều sức lực vì bồn chồn, căng thẳng.I felt that I was using a lot of nervous energy | |
| S11 | Tôi thấy mình hay bứt rứt, dễ bị kích động.I found myself getting agitated | |
| S12 | Tôi thấy khó thư giãn.I found it difficult to relax | |
| S14 | Tôi không chịu được bất cứ điều gì cản trở mình tiếp tục việc đang làm.I was intolerant of anything that kept me from getting on with what I was doing | |
| S18 | Tôi cảm thấy mình khá dễ phật ý.I felt that I was rather touchy |
Nguồn: Lovibond & Lovibond (1995), DASS-21, 7 biến (câu 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18).
Lưu ý khi sử dụng thang đo DASS-21
- DASS-21 là công cụ sàng lọc mức độ triệu chứng, không dùng để chẩn đoán trầm cảm hay rối loạn lo âu; luận văn chỉ nên viết 'mức độ triệu chứng' chứ không viết 'tỷ lệ mắc'. Trang chính thức của DASS cũng khuyên dùng điểm liên tục khi phân tích thay vì chia mẫu thành nhóm bình thường và nhóm lâm sàng.
- Đề tài có hỏi về sức khoẻ tinh thần phải làm theo quy định đạo đức nghiên cứu của trường (xin duyệt nếu trường yêu cầu, có phiếu đồng ý tham gia) và cuối bảng hỏi phải ghi một đầu mối hỗ trợ, ví dụ phòng tư vấn tâm lý của trường hoặc một đường dây nóng hỗ trợ tâm lý, cho người trả lời cần giúp đỡ.
- Đặt 21 câu theo đúng thứ tự gốc 1–21 (mã biến ở đây giữ số thứ tự gốc), không gom theo tiểu thang. Nhớ nhân 2 điểm mỗi tiểu thang trước khi so với chuẩn hoặc mức phân loại của DASS-42, và ghi rõ trong bài là đã nhân. Trang của tác giả cho phép sao chép tự do nhưng không cho sửa câu hỏi.
- Phần tiếng Việt ở đây là bản dịch của trang này, chưa qua kiểm định. Trang chính thức của DASS liệt kê sẵn các bản dịch tiếng Việt; Tran, Tran và Fisher (2013) đã kiểm định DASS-21 tiếng Việt trên 221 phụ nữ nông thôn ở Hà Nam, thấy 21 câu cùng tải lên một nhân tố và điểm tổng từ 34 trở lên phát hiện rối loạn tâm thần phổ biến với độ nhạy 79,1%, độ đặc hiệu 77,0%. Nếu dùng bản đã công bố, trích dẫn bản đó.
- Chạy CFA so sánh mô hình 3 nhân tố với mô hình 1 nhân tố chung và báo cáo kết quả; ba tiểu thang thường tương quan cao (0,6–0,7), nên khi đưa cả ba vào hồi quy cần kiểm tra đa cộng tuyến.
Độ tin cậy của DASS-21 trong các nghiên cứu đã công bố
| Khái niệm | Hệ số | Mẫu và nguồn |
|---|---|---|
| Trầm cảm (D) | α = 0,72 | n = 221 phụ nữ nông thôn có con nhỏ ở Hà Nam, bản DASS21-VTran, Tran & Fisher (2013), mục Internal reliability |
| Lo âu (A) | α = 0,77 | n = 221 phụ nữ nông thôn có con nhỏ ở Hà Nam, bản DASS21-VTran, Tran & Fisher (2013), mục Internal reliability |
| Căng thẳng (S) | α = 0,70 | n = 221 phụ nữ nông thôn có con nhỏ ở Hà Nam, bản DASS21-VTran, Tran & Fisher (2013), mục Internal reliability |
| Toàn thang 21 biến | α = 0,88 | n = 221 phụ nữ nông thôn có con nhỏ ở Hà Nam, bản DASS21-VTran, Tran & Fisher (2013), mục Internal reliability |
| Trầm cảm / Lo âu (5 biến) / Căng thẳng (6 biến), bản DASS-18 | 0,857 / 0,775 / 0,785; toàn thang 18 biến 0,912 | n = 701 sinh viên đại học Việt Nam (mẫu Việt Nam trong nghiên cứu 3 quốc gia)Le và cộng sự (2025), Bảng 5 |
Đây là số liệu của nghiên cứu khác, không thay cho kiểm định trên dữ liệu của bạn. Khi viết chương 4, so sánh hệ số của bạn với các con số này và trích đúng nguồn.
Nghiên cứu ở Việt Nam đã dùng thang đo DASS-21
- Tran, T. D., Tran, T., & Fisher, J. (2013). Validation of the depression anxiety stress scales (DASS) 21 as a screening instrument for depression and anxiety in a rural community-based cohort of northern Vietnamese women. BMC Psychiatry, 13, 24. Xem bài Kiểm định DASS21-V so với phỏng vấn chẩn đoán SCID của bác sĩ tâm thần trên 221 phụ nữ ở Hà Nam: α từ 0,70 (stress) đến 0,88 (toàn thang), EFA cho 1 nhân tố chung, điểm tổng từ 34 trở lên phát hiện rối loạn tâm thần phổ biến với độ nhạy 79,1% và độ đặc hiệu 77,0%.
- Le, D. T. H., Chan, R. C. K., Hao, J., & Wilkinson, R. B. (2025). The mental health of Australian, Chinese and Vietnamese university students: A cross-cultural comparison of the DASS-21. International Journal of Psychology, 60(4), e70057. Xem bài So sánh DASS-21 trên sinh viên Úc, Trung Quốc và Việt Nam (mẫu Việt Nam n = 701); CFA ủng hộ mô hình 3 nhân tố nhưng phải bỏ 3 biến tải thấp, còn bản DASS-18 với α mẫu Việt Nam từ 0,775 đến 0,912.
- Nguyen, H.-P., Nguyen, T. T. P., Nguyen, N. Q., Van Bui, T., Le, H. A., Hoang, V. T., & Nguyen, T. L. (2026). Prevalence of depression, anxiety and stress and associated workplace stressors among healthcare workers in a tertiary hospital in Vietnam: A cross-sectional study. PLOS One, 21(4), e0347196. Xem bài Dùng DASS-21 bản tiếng Việt đã kiểm định trên 505 nhân viên y tế một bệnh viện tuyến trung ương ở Hà Nội, coi điểm là mức độ triệu chứng chứ không phải chẩn đoán, phân tích bằng hồi quy logistic thứ bậc.
- Linh, H. N., Trang, L. T. T., Uyen, N. T. T., Tin, P. T., Nam, T. T., & Nghia, V. H. (2025). Prevalence and determinants of mental health problems among Vietnamese undergraduate students across academic disciplines. Indian Journal of Community Medicine, 50(Suppl 3), S417–S426. Xem bài Khảo sát 572 sinh viên ở Đồng Tháp bằng DASS-21 với mốc phân loại của tác giả gốc; 33,4% có triệu chứng trầm cảm, 47,4% lo âu, 28,3% stress.
Câu hỏi hội đồng hay hỏi về thang đo DASS-21
Vì sao phải nhân 2 điểm mỗi tiểu thang DASS-21?
Mốc phân loại (bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng) và chuẩn tham chiếu của Lovibond & Lovibond (1995) được xây trên bản DASS-42. Nhân 2 tổng 7 câu của DASS-21 đưa điểm về cùng thang 0–42 với DASS-42; Tran, Tran & Fisher (2013) cũng làm như vậy. Nếu chỉ phân tích tương quan hay hồi quy thì nhân hay không không đổi kết luận, nhưng khi dùng mốc phân loại thì bắt buộc phải nhân và phải ghi rõ trong bài.
Em dùng mốc 'trầm cảm nặng' của DASS-21 để báo cáo tỷ lệ mắc trầm cảm được không?
Không. DASS-21 là công cụ sàng lọc mức độ triệu chứng, không phải công cụ chẩn đoán; chỉ phỏng vấn lâm sàng mới chẩn đoán được. Tran, Tran & Fisher (2013) so DASS-21 với phỏng vấn SCID ở Việt Nam và thấy mốc tối ưu khác mốc của Úc, đồng thời thang không phân biệt được người chỉ trầm cảm với người chỉ lo âu. Nên viết 'tỷ lệ có triệu chứng trầm cảm từ mức vừa trở lên theo DASS-21'.
Dữ liệu của em không tách được 3 nhân tố, có sai không?
Không hẳn là sai. Tran, Tran & Fisher (2013) thấy 21 câu cùng tải lên 1 nhân tố ở phụ nữ nông thôn Việt Nam, còn Le và cộng sự (2025) trên 701 sinh viên Việt Nam thấy mô hình 3 nhân tố phù hợp hơn nhưng phải bỏ 3 câu tải thấp. Em nên chạy CFA so sánh mô hình 1 nhân tố và 3 nhân tố, báo cáo cả hai và giải thích lựa chọn; nếu ba tiểu thang tương quan rất cao, có thể dùng thêm điểm tổng làm chỉ số căng thẳng tâm lý chung.
Bộ khảo sát mở sẵn 3 khái niệm của DASS-21; bạn ghép thêm khái niệm từ thang đo khác, rồi tải bảng hỏi Word, bảng mã hoá Excel và đoạn chương 3.
Cỡ mẫu gợi ý cho DASS-21
DASS-21 là thang đơn lẻ 21 biến. Theo Hair và cộng sự, EFA/CFA cần tối thiểu 5 quan sát cho mỗi biến, tức 105 quan sát; nên từ 200 trở lên nếu so sánh mô hình 3 nhân tố và 1 nhân tố. Tính chính xác cho mô hình của bạn bằng máy tính cỡ mẫu.
Phân tích thang đo DASS-21 sau khi thu dữ liệu
Kiểm tra độ tin cậy từng khái niệm bằng công cụ tính Cronbach's alpha online, rồi chạy EFA, tương quan và hồi quy trong công cụ phân tích dữ liệu khảo sát. Đối chiếu kết quả với bảng ngưỡng chấp nhận Cronbach, KMO, AVE, HTMT; chỉ số nào không đạt thì bác sĩ kết quả gợi ý cách xử lý hợp lệ. Để trình bày quan hệ giữa các khái niệm, dùng công cụ vẽ mô hình nghiên cứu; mô hình có biến trung gian hoặc điều tiết thì kiểm định bằng công cụ kiểm định biến trung gian, điều tiết. Muốn so sánh với thang đo khác cùng khái niệm, xem thang đo theo khái niệm.
Bản quyền và quyền sử dụng DASS-21
Theo trang chính thức của DASS (Psychology Foundation of Australia, UNSW), bảng hỏi thuộc phạm vi công cộng, không cần xin phép; được tải và sao chép không hạn chế nhưng không được sửa đổi hay bán để kiếm lời. Sổ tay hướng dẫn (manual) phải mua riêng.
Tài liệu tham khảo thang đo DASS-21
- Le, D. T. H., Chan, R. C. K., Hao, J., & Wilkinson, R. B. (2025). The mental health of Australian, Chinese and Vietnamese university students: A cross-cultural comparison of the DASS-21. International Journal of Psychology, 60(4), e70057. https://doi.org/10.1002/ijop.70057
- Linh, H. N., Trang, L. T. T., Uyen, N. T. T., Tin, P. T., Nam, T. T., & Nghia, V. H. (2025). Prevalence and determinants of mental health problems among Vietnamese undergraduate students across academic disciplines. Indian Journal of Community Medicine, 50(Suppl 3), S417–S426. https://doi.org/10.4103/ijcm.ijcm_810_24
- Lovibond, S. H., & Lovibond, P. F. (1995). Manual for the Depression Anxiety Stress Scales (2nd ed.). Psychology Foundation.
- Nguyen, H.-P., Nguyen, T. T. P., Nguyen, N. Q., Van Bui, T., Le, H. A., Hoang, V. T., & Nguyen, T. L. (2026). Prevalence of depression, anxiety and stress and associated workplace stressors among healthcare workers in a tertiary hospital in Vietnam: A cross-sectional study. PLOS One, 21(4), e0347196. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0347196
- Tran, T. D., Tran, T., & Fisher, J. (2013). Validation of the depression anxiety stress scales (DASS) 21 as a screening instrument for depression and anxiety in a rural community-based cohort of northern Vietnamese women. BMC Psychiatry, 13, 24. https://doi.org/10.1186/1471-244X-13-24
Các tài liệu khác trong khoá luận định dạng theo cùng chuẩn bằng công cụ trích dẫn APA 7 online: dán DOI là có mục tài liệu tham khảo.