Tâm lý & sức khoẻ tinh thần
Thang đo lòng tự trọng Rosenberg tiếng Việt: RSES (1965)
- Mô hình
- RSES
- Khái niệm
- 1
- Biến quan sát
- 10
- Thang trả lời
- Đồng ý 4 mức (0–3)
Thang đo lòng tự trọng Rosenberg trên trang này gồm 10 biến quan sát thuộc 1 khái niệm, có câu gốc tiếng Anh, cách chấm điểm và tài liệu để trích dẫn.
Thang đo do Morris Rosenberg (1965) xây dựng trên mẫu hơn 5.000 học sinh trung học ở bang New York để đo lòng tự trọng tổng quát, tức thái độ tích cực hay tiêu cực của một người đối với bản thân. Thang gồm 10 câu, một nửa phát biểu tích cực, một nửa tiêu cực. Đây là thang tự trọng được dùng nhiều nhất thế giới; ở Việt Nam thường gặp trong đề tài về hình ảnh cơ thể, sử dụng mạng xã hội, bắt nạt học đường và sức khoẻ tinh thần sinh viên.
Thang trả lời: Thang 4 mức đồng ý, không có điểm giữa: Rất đồng ý (3), Đồng ý (2), Không đồng ý (1), Rất không đồng ý (0). Năm câu tiêu cực (RSE2, RSE5, RSE6, RSE8, RSE9) chấm ngược: Rất đồng ý = 0 … Rất không đồng ý = 3. Cộng 10 câu được điểm tổng 0–30, điểm càng cao lòng tự trọng càng cao. Một số nghiên cứu chấm 1–4, điểm tổng 10–40.
Biến quan sát thang đo RSES (tiếng Việt và bản gốc)
Bản tiếng Việt do ban biên tập dịch để tham khảo. Khi dùng cho nghiên cứu, hãy dịch ngược (back-translation) và chạy thử với 20–30 người trước khi phát chính thức. Thay [hệ thống], [thương hiệu]... bằng đối tượng cụ thể trong đề tài của bạn.
Lòng tự trọng (RSE) · Self-Esteem
Thái độ tích cực hoặc tiêu cực chung của một người đối với bản thân, mức độ họ thấy mình có giá trị.
| Mã | Biến quan sát (tiếng Việt) | Bản gốc (tiếng Anh) |
|---|---|---|
| RSE1 | Nhìn chung, tôi hài lòng với bản thân.On the whole, I am satisfied with myself. | |
| RSE2 (R) | Đôi khi tôi nghĩ mình chẳng ra gì cả.At times, I think I am no good at all. | |
| RSE3 | Tôi thấy mình có một số phẩm chất tốt.I feel that I have a number of good qualities. | |
| RSE4 | Tôi có thể làm mọi việc tốt như phần lớn những người khác.I am able to do things as well as most other people. | |
| RSE5 (R) | Tôi thấy mình không có nhiều điều để tự hào.I feel I do not have much to be proud of. | |
| RSE6 (R) | Có những lúc tôi thực sự thấy mình vô dụng.I certainly feel useless at times. | |
| RSE7 | Tôi thấy mình là người có giá trị, ít nhất là ngang bằng với người khác.I feel that I'm a person of worth, at least on an equal plane with others. | |
| RSE8 (R) | Tôi ước mình có thể tôn trọng bản thân nhiều hơn.I wish I could have more respect for myself. | |
| RSE9 (R) | Nói chung, tôi có xu hướng cảm thấy mình là người thất bại.All in all, I am inclined to feel that I am a failure. | |
| RSE10 | Tôi có thái độ tích cực với bản thân.I take a positive attitude toward myself. |
Nguồn: Rosenberg (1965), 10 biến.
(R): câu đảo chiều. Mã hoá lại trước khi tính điểm: điểm mới = (mức thấp nhất + mức cao nhất) − điểm trả lời. Thang 0–3: điểm mới = 3 − điểm; thang 1–4: điểm mới = 1 + 4 − điểm = 5 − điểm.
Lưu ý khi sử dụng thang đo RSES
- Thứ tự câu khác nhau giữa các tài liệu (có nơi xếp 5 câu tích cực trước), nên danh sách câu đảo chiều cũng khác theo. Hãy xác định câu đảo chiều theo nội dung (5 câu tiêu cực) chứ không theo số thứ tự.
- RSE8 ('ước mình tôn trọng bản thân hơn') hay có hệ số tải thấp ở mẫu châu Á vì có thể được hiểu là mong muốn tự hoàn thiện; xem xét kỹ trước khi loại biến và báo cáo lý do.
- Câu tích cực và tiêu cực thường tách thành hai nhân tố do hiệu ứng cách diễn đạt (method effect); với CFA, cân nhắc mô hình một nhân tố có tương quan sai số giữa các câu cùng chiều.
- Giữ thang 4 mức không có điểm giữa như bản gốc; nếu đổi sang Likert 5 mức, ghi rõ trong phần phương pháp.
Độ tin cậy của RSES trong các nghiên cứu đã công bố
| Khái niệm | Hệ số | Mẫu và nguồn |
|---|---|---|
| Tự trọng (RSES 10 câu), mẫu Việt Nam | α = 0,83 | n = 789 học sinh trung học phổ thông Việt Nam, chấm 0–3 (điểm tổng 0–30)Nguyen và cộng sự (2026), mục Rosenberg self-esteem scale |
| Tự trọng (RSES 10 câu), mẫu Việt Nam | α = 0,9 | n = 468 nhân viên văn phòng mới mất việc ở Việt Nam, năm 2023, chấm 1–4 (điểm tổng 10–40)Trung và cộng sự (2025), mục Self-esteem (Measures) |
Đây là số liệu của nghiên cứu khác, không thay cho kiểm định trên dữ liệu của bạn. Khi viết chương 4, so sánh hệ số của bạn với các con số này và trích đúng nguồn.
Nghiên cứu ở Việt Nam đã dùng thang đo RSES
- Nguyen, D. T., Hua, T. D., Nguyen, T. T. T., Pham, N. H., Nguyen, H. N., Ho, C. S. H., Tran-Chi, V.-L., Lin, K., & Lin, C.-Y. (2026). Mental health problems as mediators between self-esteem and internet addiction among adolescents. BMC Public Health, 26, 1574. Xem bài Dùng RSES chấm 0–3 (điểm tổng 0–30, đảo câu 2, 5, 6, 8, 9) trên 789 học sinh THPT Việt Nam, α = 0,83; tự trọng là biến độc lập trong mô hình PLS-SEM với DASS-21 làm biến trung gian dẫn tới nghiện internet.
- Trung, C. T. T., Dat, N. T., Teh, C. J., & Tee, P. K. (2025). Psychological capital and mental health problems among the unemployed in the post-COVID-19 era: Self-esteem as a moderator. PLOS ONE, 20(3), e0319555. Xem bài Dùng RSES chấm 1–4 (điểm tổng 10–40) làm biến điều tiết giữa vốn tâm lý và vấn đề sức khoẻ tâm thần (DASS-21) trên 468 người mới mất việc ở Việt Nam, α = 0,9.
- Ho, Q. B., Tran, H. T. L., Nguyen, D. T. T., Tran, T. T., & Tran, L. T. K. (2026). The mediating role of self-esteem in the link between attachment relationships and stress among Vietnamese nursing students: A cross-sectional survey. International Journal of Nursing Studies Advances, 10, 100500. Xem bài Dịch xuôi, dịch ngược RSES và kiểm tra giá trị nội dung với 6 chuyên gia (câu 6 có I-CVI = 0,83 nên được sửa lời), rồi dùng tự trọng làm biến trung gian giữa gắn bó và căng thẳng trên 612 sinh viên điều dưỡng ở TP.HCM; thang 1–4.
Câu hỏi hội đồng hay hỏi về thang đo RSES
Em chấm RSES theo 0–3 hay 1–4, và có ảnh hưởng gì không?
Cả hai cách đều được dùng: Nguyen và cộng sự (2026) chấm 0–3 (tổng 0–30), Trung và cộng sự (2025) và Ho và cộng sự (2026) chấm 1–4 (tổng 10–40). Hai cách chỉ lệch nhau đúng 10 điểm tổng nên alpha, tương quan và hệ số hồi quy chuẩn hoá không đổi, nhưng điểm trung bình thì khác. Em phải ghi rõ cách chấm trong phần phương pháp và quy đổi trước khi so điểm trung bình với nghiên cứu khác.
Vì sao các câu tiêu cực của em tải thấp hoặc tách thành nhân tố riêng?
Schmitt & Allik (2005) dùng RSES ở 53 quốc gia (16.998 người) và thấy cấu trúc nhân tố khá ổn định, nhưng các câu diễn đạt tiêu cực được hiểu khác nhau giữa các nền văn hoá, và ở văn hoá tập thể người trả lời hay chọn mức trung tính. Vì vậy câu tiêu cực tải thấp hoặc tách nhân tố là hiện tượng đã biết, thường do cách diễn đạt chứ không phải hai khái niệm khác nhau. Em nên kiểm tra đã đảo điểm đúng 5 câu tiêu cực chưa, rồi thử CFA 1 nhân tố có tương quan sai số giữa các câu cùng chiều.
Có thể so điểm tự trọng của mẫu Việt Nam với mẫu nước ngoài không?
Nên thận trọng. Schmitt & Allik (2005) kết luận rằng do câu tiêu cực được hiểu khác nhau giữa các quốc gia, so sánh trực tiếp điểm RSES giữa các nền văn hoá có giá trị hạn chế. Nếu đề tài cần so sánh nhóm, em nên kiểm định tính bất biến đo lường (configural, metric, scalar) trước khi so điểm trung bình.
Bộ khảo sát mở sẵn 1 khái niệm của RSES; bạn ghép thêm khái niệm từ thang đo khác, rồi tải bảng hỏi Word, bảng mã hoá Excel và đoạn chương 3.
Cỡ mẫu gợi ý cho RSES
RSES là thang đơn lẻ 10 biến. Theo Hair và cộng sự, EFA cần tối thiểu 5 quan sát cho mỗi biến (50) và nên từ 100 quan sát trở lên; CFA kiểm tra cấu trúc hai chiều tích cực và tiêu cực nên có từ 200 quan sát. Tính chính xác cho mô hình của bạn bằng máy tính cỡ mẫu.
Phân tích thang đo RSES sau khi thu dữ liệu
Kiểm tra độ tin cậy từng khái niệm bằng công cụ tính Cronbach's alpha online, rồi chạy EFA, tương quan và hồi quy trong công cụ phân tích dữ liệu khảo sát. Đối chiếu kết quả với bảng ngưỡng chấp nhận Cronbach, KMO, AVE, HTMT; chỉ số nào không đạt thì bác sĩ kết quả gợi ý cách xử lý hợp lệ. Để trình bày quan hệ giữa các khái niệm, dùng công cụ vẽ mô hình nghiên cứu; mô hình có biến trung gian hoặc điều tiết thì kiểm định bằng công cụ kiểm định biến trung gian, điều tiết. Muốn so sánh với thang đo khác cùng khái niệm, xem thang đo theo khái niệm.
Bản quyền và quyền sử dụng RSES
Dùng miễn phí cho nghiên cứu và giáo dục, không cần xin phép, theo hướng dẫn của Khoa Xã hội học, Đại học Maryland (nơi giữ tư liệu của Rosenberg) được PsyToolkit trích lại; cần trích dẫn Rosenberg. Gia đình tác giả mong được biết về việc sử dụng.
Tài liệu tham khảo thang đo RSES
- Ho, Q. B., Tran, H. T. L., Nguyen, D. T. T., Tran, T. T., & Tran, L. T. K. (2026). The mediating role of self-esteem in the link between attachment relationships and stress among Vietnamese nursing students: A cross-sectional survey. International Journal of Nursing Studies Advances, 10, 100500. https://doi.org/10.1016/j.ijnsa.2026.100500
- Nguyen, D. T., Hua, T. D., Nguyen, T. T. T., Pham, N. H., Nguyen, H. N., Ho, C. S. H., Tran-Chi, V.-L., Lin, K., & Lin, C.-Y. (2026). Mental health problems as mediators between self-esteem and internet addiction among adolescents. BMC Public Health, 26, 1574. https://doi.org/10.1186/s12889-026-27258-8
- Rosenberg, M. (1965). Society and the adolescent self-image. Princeton University Press.
- Schmitt, D. P., & Allik, J. (2005). Simultaneous administration of the Rosenberg Self-Esteem Scale in 53 nations: Exploring the universal and culture-specific features of global self-esteem. Journal of Personality and Social Psychology, 89(4), 623–642. https://doi.org/10.1037/0022-3514.89.4.623
- Trung, C. T. T., Dat, N. T., Teh, C. J., & Tee, P. K. (2025). Psychological capital and mental health problems among the unemployed in the post-COVID-19 era: Self-esteem as a moderator. PLOS ONE, 20(3), e0319555. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0319555
Các tài liệu khác trong khoá luận định dạng theo cùng chuẩn bằng công cụ trích dẫn APA 7 online: dán DOI là có mục tài liệu tham khảo.