Ngân hàng
Z-score ngân hàng: công thức đo rủi ro vỡ nợ và ổn định
- Ký hiệu
- ZSCORE
- Tiếng Anh
- Bank Z-score
- Áp dụng cho
- Ngân hàng
- Tài liệu (DOI)
- 4
Định nghĩa
Z-score đo số độ lệch chuẩn mà ROA phải giảm để vốn chủ sở hữu bị xoá hết, dựa trên khái niệm an toàn trước tiên của Roy (1952). Z-score càng cao, ngân hàng càng ổn định. Đây là biến phụ thuộc phổ biến nhất trong nghiên cứu rủi ro và ổn định ngân hàng (Laeven & Levine, 2009). Khác hoàn toàn với Z-score của Altman.
Công thức
ZSCORE = (ROA + Vốn chủ sở hữu/Tổng tài sản) / σ(ROA)
| Chỉ tiêu | Báo cáo | Mã số |
|---|---|---|
| Lợi nhuận sau thuế | Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng | — |
| Tổng tài sản | Bảng cân đối kế toán của tổ chức tín dụng | — |
| Vốn chủ sở hữu | Bảng cân đối kế toán của tổ chức tín dụng | — |
Mã số theo mẫu báo cáo tài chính của Thông tư 200/2014/TT-BTC (doanh nghiệp). Báo cáo của tổ chức tín dụng theo Thông tư 49/2014/TT-NHNN không dùng chung hệ mã này, nên chỉ ghi tên chỉ tiêu. Dùng BCTC hợp nhất nếu doanh nghiệp có công ty con, và dùng thống nhất cho mọi năm.
Các biến thể thường gặp
- Cửa sổ trượt 3 năm:
σ(ROA) tính trên năm t, t−1, t−2Lepetit và Strobel (2013) so sánh các cách tính theo thời gian. - Dạng log:
ln(ZSCORE)Z-score lệch phải mạnh (Laeven & Levine, 2009).
Dấu kỳ vọng trong nghiên cứu trước
| Quan hệ với | Dấu | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tỷ lệ an toàn vốn | Cùng chiều (+) | Nguyen (2021) cho ngân hàng Việt Nam. |
| Tăng trưởng tín dụng | Ngược chiều (−) | Le (2020). |
Dấu kỳ vọng là tóm tắt của nghiên cứu trước để viết giả thuyết; kết quả trên mẫu của bạn có thể khác.
Lỗi hay gặp
- Tính σ(ROA) trên toàn giai đoạn rồi dùng như biến thay đổi theo năm.
- Gọi là Altman Z-score.
- Lấy ROA dạng phần trăm nhưng VCSH/TTS dạng thập phân.
Chưa chắc nên ước lượng bằng Pooled OLS, FEM/REM hay GMM? Công cụ chọn phương pháp phân tích dữ liệu gợi ý theo cấu trúc dữ liệu và câu hỏi nghiên cứu. Cần biến vĩ mô làm biến kiểm soát (tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất)? Lấy từ dữ liệu kinh tế vĩ mô Việt Nam qua các năm.Muốn xem trước số liệu thật trước khi tự thu thập, mở dữ liệu BCTC ngân hàng niêm yết 2015–2025 (bảng CSV có số trang của báo cáo gốc).
Code Stata và R
Tên biến theo file dữ liệu bảng xuất từ công cụ tính chỉ số tài chính (firm,year, ta, ni…). Biến trễ chỉ hợp lệ khi năm liền trước có số liệu.
Stata
* Dữ liệu bảng: một dòng một doanh nghiệp – năm
encode firm, gen(id)
xtset id year
gen roa = ni / ta
gen eqta = eq / ta
rangestat (sd) sd_roa = roa, interval(year -2 0) by(id)
rangestat (count) n_roa = roa, interval(year -2 0) by(id)
gen zscore = (roa + eqta) / sd_roa if n_roa == 3
gen ln_z = ln(zscore)R
library(dplyr)
library(slider)
df <- df |>
group_by(firm) |> arrange(year, .by_group = TRUE) |>
mutate(roa = ni / ta, eqta = eq / ta,
sd_roa = slide_index_dbl(roa, year, sd, .before = 2, .complete = TRUE),
zscore = (roa + eqta) / sd_roa) |>
ungroup()Tài liệu tham khảo
- Laeven, L., & Levine, R. (2009). Bank governance, regulation and risk taking. Journal of Financial Economics, 93(2), 259–275. https://doi.org/10.1016/j.jfineco.2008.09.003
- Lepetit, L., & Strobel, F. (2013). Bank insolvency risk and time-varying Z-score measures. Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 25, 73–87. https://doi.org/10.1016/j.intfin.2013.01.004
- Roy, A. D. (1952). Safety first and the holding of assets. Econometrica, 20(3), 431–449. https://doi.org/10.2307/1907413
- Le, T. D. Q. (2020). The interrelationship among bank profitability, bank stability, and loan growth: Evidence from Vietnam. Cogent Business & Management, 7(1), Article 1840488. https://doi.org/10.1080/23311975.2020.1840488
DOI của từng tài liệu đã được đối chiếu với Crossref (api.crossref.org).